Tìm hiểu các bệnh về tim mạch

Home / Blog / Tìm hiểu các bệnh về tim mạch

Bệnh Động mạch tim do tỷ lệ phát bệnh cao, tỷ lệ tử vong cao, làm tổn hại nghiêm trọng sức khoẻ con người, từ đó được gọi là “Sát thủ đầu tiên của nhân loại”.

Bệnh Động mạch vành cơ tim và tự kiểm tra phòng chống

Động mạch tim do tỷ  lệ phát bệnh cao, tỷ lệ tử vong cao, làm tổn hại nghiêm trọng sức khoẻ con người, từ đó được gọi là “Sát thủ đầu tiên của nhân loại”. Bệnh động mạch vành cơ tim là tên gọi tắt của tạng tim động mạch cơ vành xơ vữa. Là chỉ mạch máu cung cấp vật chất dinh dưỡng cho tạng tim–   động mạch vành phát sinh xơ vữa khiến động mạch vành hẹp nhỏ lại hoặc tắc nghẽn, và máu cục hình thành tuyến ống quản tắc sát, dẫn đến một loại bệnh cơ tim thiếu máu, thiếu ô xy hoặc tắc nghẽn động mạch, còn được gọi là Bệnh tim thiếu máu.

tim-hieu-cac-benh-ve-tim-mach-1

Bệnh xơ vữa động mạch vành cơ tim là dẫn đến bệnh biến cơ quan là loại thường gặp nhất, và cũng là bệnh thường gặp nhất nguy hại sức khoẻ người trung cao tuổi. Loại bênh này thường phát ở những người sau 40 tuổi, và gặp ở nam giới nhiều hơn ở nữ giới, người lao động trí óc mắc nhiều hơn người lao động chân tay, người thành thị mắc nhiều hơn người nông thôn, tỷ lệ mắc bệnh bình quân là 6,49%, nhưng tỷ lệ mắc bệnh theo độ tuổi tăng trưởng mà tăng lên, là một loại bệnh tim mạch thường gặp nhất ở người già, là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tử vong ở người già.

 * Biểu hiện lâm sàng của bệnh Động mạch vành cơ tim có thể chia làm 05 nhóm

  • Nhóm bệnh tim có tính tiềm ẩn: thường không có triệu chứng gì, nhưng khi vận động nặng hoặc tâm lý bị kích động sẽ bộc phát đau tim.
  • Đau tim: thường sau khi lao động mệt mỏi, ăn no hoặc hoạt động bị bột phát, người mắc bệnh có cảm giác phía trước ngực tức thở, khó chịu hoặc bị cái gì đó đè lên nằng nặng, có lúc cảm giác đó lan ra tơi sau lưng vai phải, cánh tay phải, mỗi lần như vậy kéo dài tới hàng phút, nghỉ ngơi hoặc uống ngụm Carbonte có thể hoãn giải.
  • Cơ tim tắc nghẽn: người bệnh có cảm giác đau tim một cách đột ngột, mạnh,nhiều lần, và kéo liên tục trong một thời gian dài; nghỉ ngơi hoặc uống ngụm Carbonte không thể hoãn giải, có hiện tượng lực tim yếu ớt như đổ nhiều mồ hôi, mặt tái xanh, nóng.
  • Nhịp tim không bình thường: triệu chứng chủ yếu của người bệnh loại này là tim bứt rứt, nhịp đập quá nhanh hoặc quá chậm, có triệu chứng thở dốc, bứt rứt trong tim.
  • Lực tim suy kiệt: thường xuất hiện ngực bứt rứt khó chịu, thở khó khăn, phù nước.
  • Mười nguyên nhân gây bệnh Động mạch vành cơ tim

  1.     Tuổi tác: loại bệnh này thường gặp ở người trung cao tuổi (tức trên 40 tuổi), từ sau tuổi 49 tiến triển rất nhanh.
  2.    Giới tính: ở Trung Quốc, tỷ lệ giữa nam và nữ là khoanngr 2:1, nhưng phụ nữ sau khi hết kinh nguyệt, tỷ lệ bệnh tim động mạch vành tăng cao rõ rệt. Có tài liệu cho rằng ở độ tuổi sau 60 tỷ lệ phát bệnh ở nữ giới lớn hơn ở nam giới.
  3.     Nghề nghiệp: người lao động trí óc mắc nhiều hơn người lao động chân tay, thường có công việc căng thẳng dễ mắc bệnh hơn.
  4.     Ăn uống: những người dễ mắc bệnh là những người thường ăn uống những đồ có nhiệt lượng cao, mỡ động vật cao, Cholesterlo cao. Đồng thời lượng ăn nhiều cũng dễ mắc bệnh.
  5.     Mỡ máu: do yếu tố di truyền hoặc Lipid nạp vào quá nhiều,hoặc trao đổi chất mỡ bị rối loạn mà dẫn đến mỡ máu khác thường.
  6.     Huyết áp: huyết áp tăng cao là nhân tố nguy hiểm đơn nhất dẫn đến phát sinh bệnh tim động mạch vành. Người bệnh có động mạch vành xơ vữa chiếm tới 60% – 70% có huyết áp cao, người mắc bệnh huyết áp cao lại có động mạch vành xơ vữa thì huyết áp cao hơn huyết áp người bình thường là 04 lần.
  7.     Hút thuốc: hút thuốc là nguyên nhân nguy hại chính của bệnh tim động mạch vành. Đem so sánh người hút thuốc với người không hút thuốc, tỷ lệ phát sinh và tử vong của bệnh này tăng cao từ 2 đến 6 lần, và số điếu thuốc hút mỗi ngày thành tỷ lệ để so sánh.
  8.     Béo phì: người béo phì (vượt quá  trọng lượng cơ thể tiêu chuẩn trên 10%) dễ mắc bệnh này, và đặc biệt là ở người thể trọng tăng cân nhanh, người béo phì lại có tính cách hướng nội thì tính nguy hại càng lớn.
  9.     Bệnh tiểu đường: bệnh tiểu đường dễ dẫn đến bệnh tim mạch là sự thực đã được công nhận. Có tài liệu cho rằng tỷ lệ mắc bệnh này ở bệnh nhân tiểu đường cao gấp hai lần người  bệnh không mắc bệnh bệnh tiểu đường.
  10. Di truyền: trong gia tộc có người mắc bệnh này khi trẻ tuổi, người ruột thịt gần cận có nguy cơ lây bệnh này với tỷ lệ cao gấp 05 lần so với những người không sinh ra trong gia tộc dạng này.

Trong mười nhân tố lớn kể trên, huyết áp quá cao, thể trọng quá tiêu chuẩn quá nhiều, Cholesterol quá cao hoặc quá thấp đều là nhân tố nguy hiểm trong việc dẫn tới bệnh tim động mạch vành và chết não.

  • Tự kiểm tra bệnh Động mạch vành cơ tim

Tự kiểm tra bằng thiết bị đo: khi lao động mệt mỏi hoặc căng thẳng sẽ xuất hiện sau lồng ngực hoặc trước khu vực tim có đau đớn, hoặc đau như co thắt, lan sang bả vai trái và phải, kéo dài tư 3 tới 5 phút. Khi lao động tay chân thấy bứt rứt trong ngực, thở gấp, thở dồn, sau khi nghỉ ngơi thì hết dần. Khi vận động xuất hiện những hiện tượng liên quan như đau đầu, đau răng, đau chân. Khi ăn no, bị lạnh hoặc sợ hãi thì đột nhiên đau ngực và tim dồn dập. Khi ngủ thì cần nằm đầu cao, nếu nằm thẳng thì đột nhiên ngực đau, tim dồn dập, khó thở, lập tức cần ngồi dậy hoặc đứng thẳng lên thì hết dần. Khi quan hệ tình dục hoặc đại tiện khó khăn đều xuất hiện cảm giác tim trồng rỗng, tim buồn bực không đúng lúc. Nghe tiếng động lớn có hiện tượng hoảng loạn, ngực bứt rứt. Nhiều lần xuất hiện đi xuất hiện lại hiện tượng mạch mỏng không đều, tim đập quá nhanh hoặc quá chậm không rõ nguyên nhân.

  Phương pháp vọng chẩn qua bộ phận tại: Khu vực tim hiện vòng tròn, mép biên có màu hồng, sắc sáng; hiện vòng bán nguyệt sắc hồng; hiện dải dòng hồng sậm, hiện hình trống quay bán nguyệt đỏ dại. Khu vực tạng Tim có màu sắc xám, tai rũ chính tỏ máu cấp không đủ.

  •     Phương pháp trị liệu bệnh Động mạch vành cơ tim

–  Trị liệu bằng thuốc: chỉ dùng thuốc để trị liệu như thuốc ngăn chặn thụ thể b, thuốc chống Ion Canxi, thuốc chống chuyển hoá men, thuốc điều tiết máu mỡ, thuốc chống đông và các loại thuốc Đông y khác.

–  Trị liệu có tính giới nhập: bao gồm phẫu thuật tạo hình bên trong động mạch vành (PTCA), phẫu thuật cắt tròn vết sần động mạch vành, phẫu thuật mài tròn vết sần động mạch vành, phẫu thuật hút cắt cục sần động mạch vành, phẫu thuật bằng lade qua da, phẫu thuật cấy chống bên trong động mạch vành và liệu pháp hoà tan máu nghẽn. Hiện nay ứng dụng rộng rãi nhất của cách trị liệu có tính giới nhập là liệu pháp hoà tan máu nghẽn, phẫu thuật tạo hình bên trong động mạch vành qua da và phẫu thuật cấy chống bên trong động mạch.

–  Trị liệu phẫu thuật ngoại khoa: là chỉ phẫu thuật cấy ống nhân tạo bên cạnh động mạch vành, tức phẫu thuật nối cầu động mạch vành.

  • Ăn uống trị liệu bệnh Động mạch vành cơ tim

–  Ăn nhiều thực vật có hàm lượng mỡ, Cholesterol và Xen-lu-lo thấp, như rau xanh, hoa quả, các loại đậu và lương thực thô. Ít ăn các loại thịt, mỡ động vật và muối. Không ăn thực phẩm hàm chứa Cholesterol như phủ tạng động vật, não, tuỷ, lòng đỏ trứng, các loại động vật có vỏ giáp.

–  Trong ăn uống hàng ngày nên ăn nhiều các loại khuẩn dùng trong thực phẩm như Nấm Hương, Mộc Nhĩ. Khuẩn dùng trong thực phẩm thường có công hiệu hoạt huyết hoá ứ, giảm mỡ máu, giảm Cholesterol. Đối với chứng bệnh về tim mạch có tác dụng phòng bệnh và trị liệu rất tốt. Trong Nấm Hương có thành phần giảm mỡ máu như axit Adenlic Nấm Hương, Peptit Nấm huơng có thể giảm Cholesterol và phòng trị xơ vữa động mạch, có hiệu quả trị liệu cao đối với cao huyết áp, bệnh tim mạch, Mộc Nhĩ có thể giảm dịch máu đóng cục, có thể làm chậm quá trình xơ vữa động mạch, ngăn chặn hình thành máu vón. Linh Chi có thể giảm mỡ máu, tăng cường tuần hoàn máu, thúc đẩy trao đổi chất cũ mới, có hiệu quả trị liệu rõ rệt đối với chứng bệnh về tim mạch và mạch máu não.

–  Một số các loại thực phẩm trong có hàm chứa men Đu đủ, Hồng Khúc, Lecithine có tác dụng giảm mỡ máu, làm mềm thành mạch.

  • Kiến thức liên quan đến máu nhiễm mỡ

Sau nhiều năm nghiên cứu lâm sàng và Y học cơ bản đã chứng thực rằng: máu mỡ cao là nguyên nhân nguy hại chính dẫn tới bệnh xơ vữa động mạch, và tiến triển tiếp tới các bệnh mạch máu não và tim như nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não. Mà bệnh về các mạch máu và  tim đã trở thành sát thủ số 1 của sức khỏê con người, chiếm trong tỷ lệ số người tử vong ở Trung Quốc tới 36%. Tính từ năm 1958 đến nay, tỷ lệ người mắc bệnh về tim mạch và não tăng gấp 04 lần, mỗi năm tiêu hao của Nhà nước Trung Quốc đến gần 37 tỷ Đô la Mỹ viện phí. Hiện nay cứ 15 giây lại có một người bị cướp đi sinh mạng do bệnh tai biến mạch máu hoặc nhồi máu cơ tim, cứ 22 giây có 01 người Trung Quốc bị bệnh làm mất đi khả năng lao động, và xu hướng trẻ hoá độ tuổi mắc căn bệnh này ngày càng tăng lên.

Bệnh về mạch máu não và tim là một qúa trình lượng biến dẫn đến chất biến, rất nhiều người mắc bệnh thời kỳ đầu đều có hiện tượng mỡ máu tăng cao hoặc máu lưu thông không đều nhưng do bị coi nhẹ nên dẫn đến hiện tượng nghiêm trọng. Do đó, khống chế mỡ máu cao không phải là một phút có thể giải quyết được ngay.

  • Thế nào là mỡ máu cao

Mỡ máu cao còn gọi là máu nhiễm mỡ cao. Đó là chỉ sự trao đổi mỡ trong cơ thể con người bất thường dẫn đến mỡ máu trong dịch máu tăng cao hoặc sự thay độ mỡ máu vượt quá phạm vi bình thường. Biểu hiện thay đổi mỡ máu cao thường gặp được liệt kê ở một hay nhiều biều hiện khác thường theo các mục chỉ tiêu dưới đây:

  1. Tổng mức Cholesterol trong huyết thanh tăng cao;
  2. Độ mỡ trong huyết thanh tăng cao;
  3. Mức Cholesterol Peptit mật độ cao hạ thấp khác thường.

Đưa ra tiêu chuẩn mỡ máu thông thường ở Trung Quốc là:

  1. Tổng mức Cholesterol ≤ 200 mg/dl hoặc Cholesterol Peptit mỡ mật độ cao ≤ 120 mg/dl.
  2. Độ mỡ trong huyết thanh≤ 150 mg/dl.
  3. Cholesterol Peptít mật độ cao ³ 35mg/dl.
  • Nguyên nhân dẫn tới mỡ máu cao

Vật chất mỡ trong cơ thể là chỉ nguồn năng lượng chủ yếu bên trong cơ thể cần thiết, và còn tham gia kết cấu tế bào, tổ chức cơ thể và quá trình trao đổi chất với khá nhiều chức năng. Ví dụ như Lipid là một thành phần quan trọng của các màng tế bào trong cơ thể, và tham gia quá trình tổ chức hồi phục. Nhưng nếu Lipid trong cơ thể quá thừa thì dưới tác động đồng thời của những nhân tố gây hại khác sẽ trầm tích lắng đọng trên vách thành mạch khiến thành mạch xơ vữa nổi cục,  khiến ống quản dần dần nhỏ lại hoặc tắc nghẽn dẫn tới các cơ quan tổ chức cung cấp máu sẽ thiếu máu và tắc nghẽn. Nguồn mỡ được đến từ hai con đường trong cơ thể và ngoài cơ thể. Trong cơ thể thường do được tổng hợp trong tạng gan, ngoài cơ thể thường nhờ hấp thụ qua thực phẩm. Sự kết hợp của mỡ trong dịch máu với Protein tạo ra Pep-tít. Peptít mật độ thấp đem Cholesterol đi vào những tổ chức cơ quan bộ phận xung quanh (bao gồm huyết quản) mà Peptít mật độ cao lại đem Cholesterol tù những cơ quan bộ phận đó đi ngược lại tới tạng gan. Phàm là những nguyên nhân có thể dẫn đến bệnh như làm cho lipid trong cơ thể tăng lên hoàn toàn, phân giải chậm đi và nạp vào cơ thể quá nhiều đều làm cho mỡ máu cao.

  • Nguyên nhân gây ra các bệnh thường gặp

Cholesterol cao: mỡ bão hoà động vật trong thực phẩm nạp vào cơ thể quá nhiều, xơ gan, bệnh tiểu đường khống chế không tốt, giáp trạng kém, bệnh thận hoặc triệu chứng Cholesterol cao do di truyền. Mỡ:nạp vào cơ thể quá nhiều nhiệt lượng, nghiện rượu, không khống chế được bệnh tiểu đường nặng, bệnh thận, một số loại thuốc có kích tố (như Hoocmon kích thích) và cả triệu chứng mỡ cao do di truyền.

  • Trị liệu mỡ máu cao

 Sau khi được chuẩn đoán mỡ máu cao, đầu tiên nên tiến hành trị liệu không dùng thuốc, bao gồm: điều chỉnh ăn uống, cải thiện phương thức sống và khống chế những nhân tố ảnh hưởng trên cơ sở đó tiến hành trị liệu bằng thuốc, phát hiện dược phẩm giảm mỡ  loại Lovastatin là một trong mười phát hiện khoa học lớn của con người ở thập kỷ 80, nó có thể giảm Cholesterol, mỡ,  và  peptit mật độ thấp một cách hiệu quả và tăng thêm Peptít mật độ cao từ đó tổng hợp điều tiết mỡ máu. Vài năm lại đây, các nhà khoa học nghiên cứu phát hiện trong Hồng Khúc có chứa vật chất Lovastatin tự nhiên, và cũng có công hiệu giảm mỡ máu như vậy, nhưng nó vẫn có sự khác biệt lớn so với các loại Lovastatin được tổng hợp trong dược phẩm giảm mỡ thường gặp. Cũng giống như chúng ta quen thuộc với Vitamin C, các loại tổ hợp hoá học, cũng có loại Vitamin C tồn tại trong hoa quả tự nhiên, hai loại này có sự khu biệt rất căn bản.

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *